sáng tạo

I. Khái niệm cơ bản

1. Những bậc thầy sáng tạo

Các thiên tài cho ra đời những phát minh như thế nào? Chúng ta học được gì từ cách thức suy nghĩ của Galileo, Edison và Mozart trong lịch sử?

Galileo Galilei (1564 – 1642) là một nhà thiên văn học và toán học nổi tiếng của Italia. Sau khi phát minh ra chiếc kính thiên văn đầu tiên, ông dành hết thời gian cho việc quan sát và ghi chép về các ngôi sao. Ông là người đầu tiên phát hiện ra Mặt Trăng quay quanh sao Mộc.

Thomas Alva Edison (1847 – 1931) là tác giả của một số lượng lớn các phát minh đã làm thay đổi thế giới. Ông được biết đến nhiều nhất nhờ phát minh bóng đèn điện và máy ghi âm, nhưng đó chỉ là hai trong số hơn một ngàn phát minh của Edison.


Edison đã phát hiện ra carbon dẫn truyền, giúp cho Alexander Graham Bell sau này phát minh ra điện thoại.

Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791), nhạc sĩ người Áo, là một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất thế giới. Mozart là một thần đồng âm nhạc, có thể chơi và viết nhạc từ năm lên 6 tuổi. Suốt quãng đời ngắn ngủi của mình, Mozart đã viết hơn 600 bản nhạc. Trong đó bao gồm các bản opera lừng danh The Marriage of Figaro, Don Giovanni cùng 41 bản giao hưởng và rất nhiều bản concerto.

René Descartes (1596 – 1650) được coi là cha đẻ của Triết học hiện đại. Ông đã phát minh ra chủ nghĩa duy lí. Câu nói nổi tiếng của Descartes là: “Tôi tư duy nên tôi tồn tại”. Ý nghĩa của câu nói này vẫn còn được bàn luận trong những khoá triết học trên khắp thế giới.

Charles Dickens (1812 – 1870) là một trong những nhà văn sáng chói nhất trong lịch sử văn học nước Anh. ông sinh ra ở Hampshire, Anh, sau này trở thành một chàng trai trẻ ham thích phiêu lưu và viết tiểu thuyết. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bao gốm Oliver Twist, David Copperfield, A Tale of Two Cities (Chuyện hai thành phố) và Great Expectations (ước vọng lớn lao). Phần lớn tác phẩm của Dickens phô bày những vấn đề xã hội nổi cộm thời đó và vẫn còn được quan tâm cho đến ngày nay.

Charles Darwin (1809 – 1882) là nhà khoa học Anh nổi tiếng với Thuyết tiến hoá. Trong cuốn sách của mình, The Descent of Man (Dòng dõi con người), ông cho rằng con người tiến hoá từ loài khỉ. Điều này đã gây nên những tranh cãi dữ dội vào cuối thế kỉ XIX và vẫn còn được bàn luận đến tận ngày nay.

Richard Feynman (1918 – 1988) là nhà vật lí học đến từ New York, Mĩ. Ông nổi tiếng với “Dự án Manhattan” từ những năm 1941 – 1945. Trong dự án cực kì bảo mật này, Feynman và một nhóm các nhà khoa học đã nghiên cứu để chế tạo ra quả bom nguyên tử đầu tiên.
Hai mươi năm sau, Feynman đoạt giải Nobel Vật lí năm 1965 cho công trình trong lĩnh vực cơ học lượng tử.

Sigmund Freud (1856 – 1939) là bác sĩ người Áo, cha đẻ của ngành Phân tâm học và có những đóng góp quan trọng trong lịch sử Tâm lí học. Phân tâm học là phương pháp chữa trị những chứng bệnh vê’ tâm thân. Vào những năm 90 của thê’ kỉ XIX, Freud bắt đầu thử nghiệm cái gọi là chữa bệnh bằng nói chuyện (talking cure) với những bệnh nhân mắc bệnh tâm lí của ông. Năm 1900, Freud xuất bản cuốn sách quan trọng nhất The Interpretation of dreams (Cách giải thích về những giấc mơ). Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã khẳng định rằng nghĩ và nói về những giấc mơ là phương pháp tốt để có được một tâm lí khoẻ mạnh.

Leonardo da Vinci (1452 – 1519) là một người kiệt xuất, một hoạ sĩ, kiến trúc sư, nhà điêu khắc và kĩ sư. Ông có lẽ là thiên tài vĩ đại nhất thời kì Phục hưng ở Italia. Bức danh hoạ nổi tiếng nhấ’t của ông là Mona Lisa. Những ghi chép về da Vinci cho thấy ông có những hiểu biết đáng kinh ngạc về cơ thể’ con người và những ý tưởng sáng tạo của ông có trong nhiều phát minh mà chúng ta đang sử dụng ngày nay, bao gồm kính mắt và máy bay.


Johann Sebastian Bach (1685 – 1750) là một trong những nhà soạn nhạc cổ điển vĩ đại nhất châu Âu. ông sinh ra trong một gia đình người Đức có truyền thống vê âm nhạc và học chơi đàn từ rất sớm. ông trở thành một nhà soạn nhạc khi còn trẻ tuổi. Những tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm Brandenburg ConcertosMass cung si thứ.

Gregor Mendel (1822 – 1884) là một nhà khoa học người Áo đã dành phẩn lớn đời mình cho việc nghiên cứu sự thay đổi ở động vật và thực vật qua các thế hệ. Ông được biết đến như cha đẻ của ngành Di truyền học hiện đại. Di truyền học là ngành học nghiên cứu những đặc tính được di truyền từ cha mẹ sang con cái. Mendel đã cống hiến cả đời mình cho công cuộc nghiên cứu và ghi chép lại tiến trình này.

Nguồn: Sưu tầm

Related Post

Kết nối với Nexta

Email: cskh@nexta.edu.vn

Phone: (+84) 866077568